Tốt nghiệp Đại học Lâm nghiệp chuyên ngành Lâm sinh năm 1994 và nhận bằng Thạc sỹ khoa học lâm nghiệp năm 2001 tại trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam.
Ngay sau khi tốt nghiệp Đại học, nhận công tác tại Trung tâm nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng từ năm 1994 và thực hiện các nghiên cứu và dự án phát triển trên các lĩnh vực: đánh giá đất đai và sử dụng bền vững đất rừng, lượng giá giá trị môi trường rừng, cơ chế phát triển sạch trong lâm nghiệkp. Với hơn 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực đất giá đất đai và sử dụng bền vững đất lâm nghiệp cho các dự án trồng rừng quy mô lớn với vai trò là Chuyên gia cho các dự án trồng rừng và phát triển lâm nghiệp của GTZ, KFW, ADB, WB và Jica.
Năm 2002 được bổ nhiệm là Phó trưởng phòng Sử dụng đất và Môi trường; Năm 2004, được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó giám đốc; và từ 5/2005 giữ chức Phó giám đốc phụ trách Trung tâm nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng. Dưới đây là các lĩnh vực nghiên cứu chính:
Sử dụng bền vững đất rừng.
Đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất.
Quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn.
Đánh giá tác động môi trường.
Định giá giá trị dịch vụ môi trường rừng.
Cơ chế phát triển sạch trong ngành Lâm nghiệp. (A/R CDM)
Giáo sư Đỗ Đình Sâm là một trong những nhà khoa học đầu ngành trong lĩnh vực Lâm nghiệp. Ông nhận học vị Tiến sỹ tại Học viện Lâm nghiệp Sain Petersburg, Nga năm 1977 và Tiến sỹ Khoa học năm 1990 cũng tại học viện này.
Giáo sư Đỗ Đình Sâm nguyên là Viện trưởng Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam và là một trong những người sáng lập ra Trung tâm NC Sinh thái và Môi trường rừng. Sau khi nghỉ quản lý năm 2001 ông tiếp tục ở lại làm việc tại Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam với vai trò một nghiên cứu viên chính và Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện. Ông cũng là cộng tác viên của Trung tâm NC ST&MTR. Lĩnh vực nghiên cứu chính là: trồng rừng, Sử dụng bền vững đất rừng, môi trường và xây dựng chính sách lâm nghiệp.
PGS.Tiến sỹ Hoàng Xuân Tý nguyên là Giám đốc Trung tâm NC Sinh thái và Môi trường rừng khoá 1995- 2001. Ông đã nghiên cứu trong lĩnh vực đất rừng trong thời gian dài và đã có nhiều đóng góp trong việc làm rõ vòng tuần hoàn dinh dưỡng trong hệ sinh thái rừng Việt Nam.
Ông Tý đã nghỉ hưu năm 2001, hiện nay ông là cố vấn khoa học của Hội Lâm nghiệp Việt Nam. Đồng thời ông cũng là một thành viên trong Hội đồng khoa học của Viện Khoa học Lâm nghiệp và Trung tâm NC ST&MTR. Tiến sỹ Hoàng Xuân Tý nghiên cứu trong một số lĩnh vực chính là: Đất rừng, hệ sinh thái rừng, CDM, lâm nghiệp xã hội và chính sách lâm nghiệp.
PGS.TS. Ngô Đình Quế được cấp học vị Tiến sỹ lâm nghiệp của trường Đại học Zvolen, Slovakia năm 1991. Năm 1969- 1971 ông công tác tại phân viện nghiên cứu Lâm Nghiệp Cúc Phương. Năm 1971chuyển về công tác tại VIện Khoa Học Lâm Nghiệp Việt Nam và công tác tại Trung tâm NC Sinh thái và Môi trường rừng với nhiều vị trí khác nhau. Năm 2000 - 2005 Tiến sỹ Ngô Đình Quế được bổ nhiệm làm giám đốc Trung tâm NC ST&MTR. Một số lĩnh vực nghiên cứu chính của ông Quế là: Sử dụng bền vững tài nguyên rừng và đất rừng, nâng cao năng lực quản lý rừng. Năm 2004, ông được nhận học hàm Phó giáo sư của Bộ Nông nghiệp & PTNT. tháng 1 năm 2007 được bầu làm chủ tịch hội đồng khoa học Viện Khoa Học lâm Nghiệp Việt Nam. Ông đã hướng dẫn thành công 5 nghiên cứu sinh và học viên cao học trong các lĩnh vực đất rừng và sinh thái rừng.
PGS.Tiến sỹ Ngô Đình Quế đã đề xuất nhiều Chương trình nghiên cứu quốc gia trong lĩnh vực đất rừng và sinh thái rừng. Đồng thời ông cũng đã tham gia vào các dự án hợp tác với nước ngoài như WB, ADB, GTZ, FAO, JICA, GFA, KFW Một số lĩnh vực nghiên cứu chính của ông là :
Nguyễn Anh Dũng tốt nghiệp kỹ sư Lâm nghiệp trường Đại học Lâm nghiệp Thái Nguyên năm 1992, Thạc kỹ khoa học Lâm nghiệp trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam năm 2001 và hiện nay đang là nghiên cứu sinh năm thứ 3 tại Viện Khoa học Lâm nghiệp.
Trong thời gian đầu làm việc anh công tác tại trạm nghiên cứu Lâm Nghiệp Hóa Thượng Đồng Hỷ - Thái nguyên thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Sinh Thái Và Môi Trường Rừng - VIện Khoa Học Lâm Nghiệp Việt Nam và chuyên môn về xây dựng bản đồ rừng, quy hoạch và quản lý đất rừng cấp vi mô.
Năm 1997 anh được giao thực hiện nhiệm vụ xây dựng Trạm nghiên cứu môi trường và rừng phòng hộ Sông Đà tại Hòa Bình và quản lý gần 400ha rừng và đất rừng. Năm 1999, được bổ nhiệm làm Phó trạm trưởng, nghiên cứu trong các lĩnh vực phòng hộ đầu nguồn, tái sinh phục hồi rừng tự nhiên và chuyển giao công nghệ cho người dân địa phương trong vùng. Anh có nhiều kinh nghiệm thực tiễn qua việc tham gia vào nhiều dự án trong các lĩnh vực: Lập bản đồ đất và rừng, phân loại thực vật, xây dựng mô hình thí nghiệm, lập và thực hiện quy hoạch cho các dự án trồng rừng.
Hoàng Việt Anh tốt nghiệp Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội năm 1996 chuyên ngành Sinh thái học và nhận bằng Thạc sỹ khoa học về quản lý tài nguyên thiên nhiên của Học viện ITC, Hà Lan năm 2001.
Anh công tác tại Trung tâm NC Sinh thái và Môi trường rừng từ năm 1996 với chuyên môn chính về sinh thái rừng và công nghệ GIS và viễn thám. Từ năm 1998 đến 2003, đã tham gia vào nhiều dự án nghiên cứu về sử dụng GIS cho đánh giá đất đai và độ thích hợp cây trồng. Anh đặc biệt quan tâm đến các hướng ứng dụng GIS và công nghệ viễn thám trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên và hệ sinh thái rừng. Ngoài ra anh cũng quan tâm đến các khía cạnh kinh tế - xã hội trong ngành lâm nghiệp, và đã tham một số dự án về sử dụng tri thức bản địa trong quản lý tài nguyên thiên nhiên và các khu “rừng thiêng”.
Nguyễn Thị Thu Hương đã tốt nghiệp đại học năm 1996 và thạc sỹ năm 2001 tại trường Khoa học tự nhiên Hà Nội. Hiện nay chị là nghiên cứu sinh năm thứ hai tại trường Đại học Queenland, Australia.
Năm 1998, chị bắt đầu làm việc tại Trung tâm và là cộng tác viên của GS.TSKH Đỗ Đình Sâm trong một số dề tài nghiên cứu ảnh hưởng của cây nhập nội đến môi trường. Nhiệm vụ chính của chị hiện nay là nghiên cứu sinh lý thực vật, sinh thái rừng và đánh giá đa dạng sinh học. Ngoài ra chị còn cộng tác chặt chẽ với phòng thí nghiệm trong các hoạt động của phòng thí nghiệm đất, sinh lý thực vật của Trung tâm.
Đoàn Đình Tam nhận bằng kỹ sư Lâm nghiệp năm 1999 và Thạc sỹ khoa học Lâm sinh năm 2005 tại trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam.
Năm 1999, anh công tác tại Trung tâm và làm việc trong lĩnh vực phục hồi RỪNG NGẬP MẶN ở các vùng sinh thái khác nhau ở Việt Nam cùng với PGS. TS Ngô Đình Quế. Từ năm 2001 đến 2005 anh tập trung vào nghiên cứu các giải pháp và kỹ thuật trồng rừng ngập mặn vùng ven biển nhất là tại các điều kiện lập địa khó khăn, quản lý rừng ngập mặn trên cơ sở cộng đồng. Ngoài ra anh đang thực hiện đề tài Nghiên cứu một số cơ sở khoa học và biện pháp kỹ thuật gây trồng cây Chò Chỉ, một loài cây bản địa quan trọng có giá trị ở Việt Nam. bên cạnh đó anh còn tham gia nghiên cứu vào các lĩnh vự khác như Sinh lý thực vật của 2 loài cây Keo lai và Bạch đàn. Tham gia vào việc xây dựng qui phạm bón phân cho một số loài cây chủ yếu như Bạch Đàn, Keo lai, Dầu nước,...Anh có 8 năm kinh nghiệm làm việc trong các lĩnh vực như bảo tồn đất, rừng, quy hoạch sử dụng đất, quản lý và phát triển rừng.
Đinh Thanh Giang tốt nghiệp đại học năm 1996 và là Thạc Sỹ năm 2002 tại trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam.
Năm 1998 - 2000 anh là cộng tác viên của đề tài "nghiên cứu rút ngắn thời gian bỏ hóa trong canh tác rẫy ở Tây Bắc" cùng với TS. Ngô Đình Quế. Sau đó anh tham gia nghiên cứu trong lĩnh vực Nghiên cứu phục hồi rừng ngập mặn vùng ven biển Việt Nam.
Hiện nay ThS. Đinh Thanh Giang đang là chủ trì đề tài " trồng rừng Tràm trên đất bán ngập ở Hà Tây và Ninh Bình" anh đanglà cộng tác viên chính cho đề tài " Nghiên cứu phân hạng đất trồng rừng sản xuất cho một số loài cây chủ yếu ở Việt Nam" do PGS.TS Ngô Đình Quế làm chủ nhiệm. Anh có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu trong lĩnh vực: Đánh giá đất rừng; xây dựng và thực hiện các mô hình thực nghiệm; và lập quy hoạch sử dụng đất đai và hiện nay anh đang là phó trưởng phòng sử dụng đất và môi trường của trung tâm.
Nguyễn Thanh Hải được nhận bằng Kỹ sư Lâm nghiệp của trường Đại học Lâm nghiệp năm 1996. Ngay sau đó anh vào làm việc tại Trung tâm NC Sinh thái và Môi trường rừng trong một số lĩnh vực liên quan đến sinh thái rừng đặc biệt là rừng tự nhiên và rừng tái sinh phục hồi.
Với 10 năm nghiên cứu về các vùng sinh thái ở Việt Nam, anh đã tích luỹ được một vốn kinh nghiệm trong các lĩnh vực bảo tồn, xây dựng một số mô hình thực nghiệm của chương trình 661 và dự án JICA tại Hòa Bình.